TS. Lê Xuân Sang: "Tín dụng không thể "chạy một mình" trên đường dài tăng trưởng"
Lượt xem: 13
Để đóng góp cho tăng trưởng kinh tế có chất lượng, cao và ổn định, trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, TS. Lê Xuân Sang – Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) cho rằng, tín dụng không thể tiếp tục là nguồn vốn "chạy một mình", mà cần được đặt trong một chiến lược cải cách đồng bộ về phát triển thị trường vốn trong gắn kết chặt chẽ với chất lượng tăng trưởng.

TS. Lê Xuân Sang – Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam).

Phóng viên: Thưa ông, nhìn lại chặng đường dài của nền kinh tế Việt Nam, ông đánh giá thế nào về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP?

TS. Lê Xuân Sang: Nếu nhìn một cách dài hạn, có thể thấy, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam trong khoảng 40 năm qua luôn duy trì ở mức cao, nhưng xu hướng chung là giảm dần về mặt hiệu suất sử dụng vốn so với GDP.

Cụ thể, trong giai đoạn 2006–2010, tăng trưởng tín dụng trung bình từng lên tới khoảng 33% mỗi năm, sau đó giảm xuống 17,5% trong giai đoạn 2011–2015 và duy trì trên 14% trong hai kỳ kế hoạch gần đây. Trong khi đó, nhịp độ tăng trưởng GDP trong các giai đoạn nói trên lại khá ổn định, dao động quanh mức hơn 6% trong suốt nhiều giai đoạn. Cụ thể, giai đoạn 2011–2015, tín dụng tăng trung bình 17,34% góp phần giúp GDP tăng 6,17%; giai đoạn 2016–2020, tín dụng tăng 14,58% thì GDP tăng 6,27%; và giai đoạn 2021–2025, tín dụng tăng 14,65% trong khi GDP tăng 6,29%.

Cần lưu ý là, hiệu suất của tín dụng (tương quan tăng trưởng Tín dụng/tăng trưởng GDP) trong chừng mực đáng kể nằm ở hiệu quả phân bổ vốn. Một phần dòng vốn tín dụng đã bị "rò rỉ" sang các kênh phi sản xuất, bao gồm đầu cơ tài sản (đầu tư/đầu cơ chứng khoán, tài sản kỹ thuật số (ví dụ, bitcoin). Khi tín dụng không đi vào những khu vực kinh tế thực, nhất là có năng suất cao, thì dù quy mô có mở rộng, đóng góp cho tăng trưởng thực vẫn bị hạn chế, chứa đựng rủi ro và không thể kiểm soát.

Bên cạnh đó, lãi suất huy động và cho vay đạt đỉnh vào giữa năm 2023, sau đó hạ dần và đến cuối năm 2025 lại có dấu hiệu nhích lên. Cơ cấu tín dụng cũng cho thấy những tín hiệu cần lưu ý. Trong khi tín dụng thương mại có xu hướng giảm trong giai đoạn 2023 - 2024, thì tín dụng bất động sản lại tăng tới 36% tính đến cuối tháng 5/2025 so với năm trước. Nếu không được kiểm soát tốt, kiềm chế ở mức hợp lý sự lệch pha này có thể làm gia tăng rủi ro cho cả hệ thống tài chính, nhất là hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Phóng viên: Ông đánh giá như thế nào về các thuận lợi, khó khăn khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, trong đó tín dụng vẫn được coi là một trụ cột quan trọng?

TS. Lê Xuân Sang: Việt Nam hiện có không ít thuận lợi về mặt nền tảng vĩ mô. Trước hết, mức tiết kiệm trong nước vẫn duy trì ở mức cao và vượt đầu tư khoảng 4 điểm % trong năm 2024. Cán cân vãng lai liên tục nhiều năm liền ở trạng thái thuận lợi, tạo điều kiện để thúc đẩy đầu tư mà không gây áp lực quá lớn lên ổn định vĩ mô.

Nợ công ở mức tương đối thấp so với nhiều quốc gia khác, kể cả các nước đang phát triển cũng mở ra dư địa cho đầu tư công đóng vai trò dẫn dắt mà không quá e ngại lạm phát tăng mạnh.

Về chi phí vốn, mức lãi suất ngân hàng của Việt Nam hiện nay khá cạnh tranh trong khu vực, ngoại trừ Trung Quốc. Mức chênh lệch mức sinh lợi (cụ thể là lợi suất trái phiếu chính phủ/kho bạc) giữa trong nước và Mỹ đang thu hẹp, qua đó giảm áp lực lên tỷ giá và hạn chế dòng vốn chảy ra ngoài.

Ngoài ra, triển vọng nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ "cận biên" lên "mới nổi" sẽ giúp thu hút thêm các dòng vốn trung và dài hạn, giảm bớt gánh nặng cho hệ thống tín dụng ngân hàng.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất lại nằm ở chính quy mô tín dụng. Mức tín dụng đối với nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân, đã ở mức rất cao so với GDP (khoảng 150% GDP), vượt xa ngưỡng trung bình quốc tế. Theo tính toán định lượng đối với trên 100 nền kinh tế lớn trong khoảng 20 năm, khi tỷ lệ tín dụng trên GDP quá lớn (trên 100% GDP), mức hiệu suất sử dụng vốn tín dụng được coi là rủi ro, nghĩa là sự tăng trưởng cao hơn mức đó thậm chí có hại cho tăng trưởng GDP, đe dọa tính bền vững của tăng trưởng.

Phóng viên: Theo ông, đâu là những định hướng then chốt để tín dụng thực sự hỗ trợ tăng trưởng cao nhưng vẫn bền vững trong trung và dài hạn?

TS. Lê Xuân Sang: Theo tôi, trọng tâm không phải là đẩy tín dụng lên cao hơn nữa, mà là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và cải thiện cấu trúc tài chính của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi một lộ trình cải cách, tiếp cận đồng bộ cả từ phía nguồn vốn lẫn lĩnh vực đầu tư, thay vì chỉ mở rộng tín dụng theo chiều rộng.


Trước hết, về nguồn vốn, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, trong đó tín dụng ngân hàng cần được hỗ trợ bởi sự phát triển thực chất của thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu. Điều này giúp giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng, tăng các kênh đầu tư cổ phiếu.

Cùng với đó, việc củng cố và phát triển vững chắc các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập là điều kiện then chốt nhằm nâng cao tính minh bạch, giảm rủi ro và tạo nền tảng cho thu hút nhiều hơn dòng vốn trung và dài hạn.

Song song với đó, thị trường cổ phiếu cần được lành mạnh hóa thông qua kiểm soát chặt các hình thức đòn bẩy tài chính phi chính thức, quản lý hiệu quả hoạt động của các công nghệ tài chính (fintech) trong lĩnh vực chứng khoán; cần nghiên cứu, xem xét hạn chế đối với hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán, nhằm lành mạnh hóa hoạt động đầu tư, hạn chế đầu cơ, thao túng thị trường, góp phần hạn chế rủi ro lan truyền sang hệ thống ngân hàng. Kinh nghiệm của Trung Quốc cách đây 20 năm cấm công ty chứng khoán tự doanh là đáng lưu ý.

Một hướng đi quan trọng khác là thúc đẩy đồng thời cung – cầu nhà ở giá hợp lý thông qua các cơ chế ưu đãi tín dụng cho các nhà đầu tư/phát triển bất động sản, gắn liền với các ràng buộc rõ ràng về giá thuê nhà trong thời gian dài. Kinh nghiệm quốc tế, nhất là Mỹ trong phát triển đa dạng kênh đầu tư bất động giá (bán, thuê) hợp lý là đáng tham khảo.

Bên cạnh đó, việc từng bước ban hành đầy đủ và đồng bộ các quy định về tín dụng xanh cho các ngân hàng thương mại, từ chuẩn mực cấp tín dụng, đánh giá rủi ro đến các bài kiểm tra sức chịu đựng (stress test), chế tài đối với dự án xanh trá hình… là cần thiết để vừa mở rộng tín dụng, vừa kiểm soát rủi ro dài hạn đối với các lĩnh vực kinh tế xanh đầy tiềm năng tăng trưởng cao. Quan trọng không kém, hệ thống dự báo và cảnh báo rủi ro tín dụng cần được hoàn thiện, không chỉ trong phạm vi ngân hàng mà còn gắn với các kênh huy động và đầu tư khác của nền kinh tế.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!

 

Nguồn bài viết: https://tapchikinhtetaichinh.vn/bai-4-tin-dung-khong-the-chay-mot-minh-tren-duong-dai-tang-truong-141355.html&link=autochanger