Hội thảo khoa học “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam trong bối cảnh mới”
Ngày 16/6/2026, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam trong bối cảnh mới”. Hội thảo nằm trong khuôn khổ của đề tài cấp Bộ do TS. Trần Thị Vân Anh – Phó trưởng phòng Phòng Thể chế kinh tế – Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới là chủ nhiệm đề tài.
Tham dự Hội thảo, có TS. Phạm Anh Tuấn,
Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cùng toàn thể cán bộ của Viện.
Về phía diễn giả có TS. Trần Thị Vân Anh, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới; ThS.
Chu Việt Cường, Nguyên Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển công nghiệp; ThS.
Trần Văn Hoàng, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Toàn cảnh Hội thảo
Mở đầu Hội thảo là tham luận “Cơ sở lý
luận về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam trong bối cảnh mới”
của TS. Trần Thị Vân Anh. Tham luận làm rõ các khái niệm nền tảng về công nghiệp
hỗ trợ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và chính sách phát triển công nghiệp hỗ
trợ. Tác giả phân loại chính sách thành hai nhóm công cụ chủ yếu gồm nhóm hỗ trợ
phát triển và nhóm ưu đãi đầu tư. Đồng thời, tham luận chỉ ra 7 nhóm nhân tố ảnh
hưởng đến quá trình thực thi chính sách. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của
Nhật Bản, Hàn Quốc và Malaysia, tác giả nhấn mạnh yêu cầu tăng cường điều phối
chính sách, phát triển cụm công nghiệp hỗ trợ, nâng cấp doanh nghiệp nội địa và
tích hợp số hóa, ESG trong giai đoạn mới.

Tham luận “Chính sách phát triển công
nghiệp hỗ trợ của Việt Nam từ năm 2015 đến nay” của ThS.Chu Việt Cường đã tổng
kết quá trình hoàn thiện khung pháp lý từ Nghị định 111/2015/NĐ-CP đến Nghị định
205/2025/NĐ-CP và Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn
2026–2035. Theo tác giả, sau gần 10 năm triển khai chính sách, số lượng doanh
nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã tăng từ khoảng 2.200–2.500 doanh nghiệp lên gần
7.000 doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia chuỗi cung ứng của các tập
đoàn đa quốc gia như Samsung, LG và Toyota. Bên cạnh những kết quả đạt được,
tham luận cũng chỉ ra các hạn chế về quy mô doanh nghiệp, trình độ công nghệ, tỷ
lệ nội địa hóa và liên kết với khu vực FDI.
Với tham luận “Thực trạng phát triển
công nghiệp hỗ trợ Việt Nam từ năm 2015 đến nay”, ThS. Trần Văn
Hoàng chỉ rõ số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tăng từ 22,6 nghìn doanh
nghiệp năm 2015 lên 52,2 nghìn doanh nghiệp năm 2024, song phần lớn vẫn là
doanh nghiệp quy mô nhỏ. Tác giả chỉ ra thực trạng tỷ trọng doanh nghiệp điện tử
trong tổng số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ gần như không thay đổi trong nhiều
năm, trong khi khoảng cách về vốn giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong
nước tiếp tục gia tăng. Bên cạnh đó, diễn giả nhấn mạnh rằng giai đoạn tới cần
chuyển trọng tâm từ việc gia tăng số lượng doanh nghiệp sang phát triển các nhà
cung ứng đạt chuẩn thông qua nâng cấp công nghệ, đạt các chứng nhận kỹ thuật và
tăng cường kết nối đơn hàng.
Trong phần thảo luận, TS. Phí Vĩnh Tường nhấn mạnh sự cần
thiết phải đặt vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ trong bối cảnh mới của cạnh
tranh nước lớn, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và tác động của Cách mạng công nghiệp
4.0. Theo TS. Phí Vĩnh Tường, các công nghệ mới như in 3D, quét 3D đang làm
thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng truyền thống, đặt ra yêu cầu thích ứng đối với
doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. TS. Phí Vĩnh Tường cũng đề nghị làm rõ cơ sở
lý luận cho sự can thiệp của Nhà nước đối với lĩnh vực này, đồng thời lưu ý việc
đánh giá chính sách cần dựa trên các số liệu thực chất thay vì chỉ nhìn vào tốc
độ tăng trưởng tương đối. Bên cạnh đó, chuyển giao công nghệ chỉ có thể diễn ra
hiệu quả khi hình thành được niềm tin chiến lược giữa doanh nghiệp FDI và doanh
nghiệp trong nước.

Dẫn chứng từ mô hình của Đức, TS. Lý Đại Hùng khuyến khích
doanh nghiệp Việt hướng tới trở thành các "Nhà vô địch ẩn danh", trong đó các doanh nghiệp vừa và
nhỏ tập trung chuyên sâu vào một sản phẩm hoặc công đoạn cụ thể để tạo lợi thế
cạnh tranh toàn cầu. TS. Lý Đại Hùng cũng lưu ý những thách thức từ làn sóng đầu
tư mới của doanh nghiệp Trung Quốc khi nhiều doanh nghiệp mang theo hệ sinh
thái cung ứng riêng, tạo áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp nội địa. Đồng
thời, đề xuất tận dụng các dự án quy mô lớn như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam
để hình thành và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ mới.
ThS. Võ Hải Minh đề xuất nhóm nghiên cứu cần bám sát các văn
bản mới nhất như Nghị định 2005/2025/CP và Quyết định 929/QĐ-TTg về chương
trình phát triển CNHT giai đoạn 2026 - 2030. Đây là những căn cứ thực tế quan
trọng nhất để định nghĩa "bối cảnh mới" và xây dựng các khuyến nghị
chính sách có tính thực thi cao.
TS. Tống Thị Mỹ Thi lưu ý rằng tính khả thi của chính sách cần
được đặt trọng tâm đánh giá ở giai đoạn thiết kế hoặc tiền thiết kế, thay vì chỉ
tập trung vào khâu tổ chức thực hiện. Khác với góc nhìn thận trọng của TS. Phí
Vĩnh Tường, TS. Tống Thị Mỹ Thi tin tưởng hoàn toàn có thể thúc đẩy chuyển giao
công nghệ thông qua các phương thức chuyển
giao có điều kiện và các mô hình hợp tác linh hoạt.
Kết luận hội thảo, Ban Tổ chức đánh giá cao các ý kiến trao
đổi, phản biện của các chuyên gia và đại biểu tham dự. Các ý kiến đóng góp sẽ
được Ban chủ nhiệm các đề tài tiếp thu, nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo trong
thời gian tới.
Hội thảo đã diễn ra thành công tốt đẹp.
Thực hiện: Việt Hà