Hội thảo khoa học cấp quốc gia: "Giải pháp tăng cường năng lực chống chịu nhằm phát triển kinh tế Việt Nam trong bối cảnh mới"
Hội thảo do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Luật tổ chức tổ chức vào ngày 22/7/2026 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hoạt động khoa học thuộc Đề tài cấp quốc gia "Giải pháp tăng cường năng lực chống chịu nhằm phát triển kinh tế Việt Nam trong bối cảnh mới", thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia KX.01/21-30. Hội thảo đã thu hút đông đảo sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp trên phạm vi cả nước.
Hội
thảo do TS. Trần Thanh Long, Phó
Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Luật; PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng, Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh
tế - Luật, Tổng Biên tập VNUHCM
Journal of Economics, Business and Law; và TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế
giới, Chủ nhiệm đề tài đồng chủ trì. Tham dự Hội thảo có đại diện Ban Chủ nhiệm
Chương trình KX.01/21-30, các nhà khoa học đến từ nhiều viện nghiên cứu, trường
đại học, các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp và doanh nghiệp.
Hội thảo thu hút gần 50 bài nghiên cứu được tuyển chọn vào kỷ yếu, phản ánh
nhiều hướng tiếp cận mới về năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong
bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh và khó lường.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế - Luật và Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới nhấn mạnh, trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với sự đan xen của các cú sốc kinh tế, tài chính, địa chính trị, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, yêu cầu nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế đã trở thành một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam - một nền kinh tế có độ mở lớn và hội nhập sâu rộng - việc xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp nâng cao năng lực chống chịu không chỉ có ý nghĩa nghiên cứu mà còn có giá trị trực tiếp đối với quá trình hoạch định chính sách phát triển trong giai đoạn mới.
Trong báo cáo đề dẫn, TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Chủ nhiệm Đề tài, đã trình bày khung nghiên cứu tổng thể của Đề tài và những kết quả nghiên cứu bước đầu. Báo cáo tiếp cận năng lực chống chịu của nền kinh tế theo bốn năng lực cốt lõi gồm hấp thụ thích ứng, phục hồi và chuyển đổi, đồng thời đề xuất năm nhóm trụ cột phân tích bao gồm: an ninh tài chính; sức mạnh kinh tế; cơ cấu kinh tế; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cùng chất lượng thể chế, quản trị quốc gia, vốn xã hội và vốn con người. Đây được xem là một trong những khung nghiên cứu toàn diện nhằm đánh giá năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh các rủi ro toàn cầu ngày càng gia tăng.
Đáng
chú ý, báo cáo cũng giới thiệu định hướng xây dựng Bộ chỉ số Năng lực chống chịu của Việt Nam (Vietnam Resilience Index),
hướng tới lượng hóa khả năng chống chịu của nền kinh tế trên cơ sở các chỉ tiêu
có thể so sánh với quốc tế. Theo nhóm nghiên cứu, việc xây dựng một bộ chỉ số
tổng hợp không chỉ phục vụ đánh giá thực trạng mà còn tạo cơ sở khoa học cho
việc theo dõi, dự báo và hoạch định chính sách nhằm nâng cao khả năng thích ứng
của nền kinh tế trước các cú sốc trong tương lai.
TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Chủ nhiệm Đề tài trình bày báo cáo đề dẫn tại Hội thảo.
Tại phiên tham luận, các nhà khoa học đến từ
nhiều trường đại học và viện nghiên cứu lớn trên cả nước đã tiếp
cận chủ đề từ nhiều góc độ khác nhau nhưng đều thống nhất ở nhận định rằng năng
lực chống chịu của nền kinh tế không chỉ được quyết định bởi các yếu tố kinh tế
vĩ mô mà còn phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng thể chế, năng lực đổi mới
sáng tạo, phát triển khoa học và công nghệ, mức độ tự chủ của doanh nghiệp cũng
như khả năng thích ứng của hệ thống tài chính trước những biến động của môi
trường quốc tế.
Trong
tham luận của mình, PGS.TS. Trần Văn
Trung, Trường Đại học Kinh tế - Luật, đã hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết về năng lực chống chịu của
nền kinh tế và đề xuất vận dụng vào điều kiện Việt Nam thông qua sáu nhóm lý
thuyết chủ đạo, bao gồm lý thuyết năng lực chống chịu, lý thuyết hệ thống, phát
triển bền vững, đa dạng hóa và quản trị rủi ro, lý thuyết thể chế, cũng như vốn
xã hội và vốn nhân lực. Báo cáo đồng thời gợi mở các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện
khung thể chế, nâng cao năng lực tự chủ và khả năng thích ứng của nền kinh tế
trước các cú sốc từ bên ngoài.
Từ
góc độ chính sách tiền tệ, PGS.TS. Phạm
Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng, phân tích những thách thức mới đối với điều hành kinh tế
vĩ mô trong bối cảnh gia tăng bất định toàn cầu. Báo cáo nhấn mạnh yêu cầu điều
hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách
tài khóa nhằm vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ mục tiêu tăng
trưởng bền vững; đồng thời đề cập các vấn đề về tỷ giá, tín dụng, thanh khoản
và định hướng ưu tiên nguồn vốn cho các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với
nền kinh tế.
Từ góc độ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo, trong bài tham luận "Nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua phát triển năng lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo", PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh đây
là động lực cốt lõi để nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), tạo nền tảng
cho tăng trưởng dài hạn và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước
các cú sốc bên ngoài. Báo cáo phân tích những hạn chế trong hoạt động nghiên
cứu và phát triển (R&D), thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cũng như các
rào cản thể chế đang ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc
gia. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ, hoàn
thiện cơ chế khuyến khích khu vực tư nhân tham gia R&D, đồng thời tăng
cường gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp và thị
trường.

PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam trình bày tại hội thảo
Trong tham luận về tài chính
số, TS. Trần Mai Trang, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng quá trình chuyển đổi số trong
lĩnh vực tài chính - ngân hàng đang tạo ra những thay đổi quan trọng đối với
khả năng chống chịu của nền kinh tế. Việc phát triển các mô hình ngân hàng số,
Fintech, thanh toán không dùng tiền mặt và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ
tài chính sẽ góp phần tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp, đặc biệt
là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, cùng với những cơ hội mới, quá trình số
hóa cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tăng cường an toàn an
ninh mạng và xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) nhằm hạn chế các
rủi ro phát sinh từ thị trường tài chính số.
Khép lại phiên tham luận, PGS.TS.
Nguyễn Thị Mai, Trường Đại học Kinh tế - Luật tập trung phân tích những tác động ngày càng rõ nét của
các yếu tố bất định toàn cầu đối với nền kinh tế Việt Nam thông qua các chỉ số
đo lường bất định quốc tế, đồng thời đánh giá khả năng chống chịu của một số
ngành sản xuất chủ lực. Báo cáo nhấn mạnh yêu cầu đa dạng hóa thị trường xuất
khẩu, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp và
củng cố khả năng thích ứng của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài trong bối
cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Phiên thảo luận diễn ra sôi
nổi với nhiều ý kiến trao đổi từ các nhà khoa học, chuyên gia và đại diện doanh
nghiệp. Các đại biểu đánh giá cao cách tiếp cận liên ngành của Đề tài khi kết
hợp các góc nhìn về kinh tế vĩ mô, tài chính, khoa học và công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chất lượng thể chế và quản trị quốc gia trong nghiên cứu năng lực
chống chịu của nền kinh tế. Nhiều ý kiến cho rằng trong bối cảnh các cú sốc
toàn cầu ngày càng có tính hệ thống và khó dự báo, năng lực chống chịu cần được
xem là một thuộc tính của mô hình tăng trưởng mới, thay vì chỉ là khả năng ứng
phó sau khủng hoảng.
Các ý kiến thảo luận tập
trung làm rõ vai trò của vốn xã hội và niềm tin trong nâng cao sức chống chịu
của nền kinh tế; yêu cầu hoàn thiện các ngưỡng an toàn tài chính quốc gia; phát
triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với nâng cao năng suất; cũng
như tăng cường năng lực triển khai chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và
trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với mô hình phát triển.
Nhiều đại biểu cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng các chính sách hỗ trợ
doanh nghiệp nâng cao khả năng thích ứng, đa dạng hóa thị trường và tăng cường
sức chống chịu của chuỗi cung ứng trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị và
biến động thương mại quốc tế.
Phát biểu tổng kết Hội thảo,
TS. Lê Xuân Sang trân trọng cảm ơn các ý kiến đóng góp tâm
huyết của các nhà khoa học, chuyên gia và đại biểu tham dự. Chủ nhiệm Đề tài
cho biết các ý kiến trao đổi tại Hội thảo sẽ được nhóm nghiên cứu tiếp thu đầy
đủ nhằm tiếp tục hoàn thiện nội dung nghiên cứu, đặc biệt là các vấn đề liên
quan đến lượng hóa năng lực chống chịu của nền kinh tế, xây dựng Bộ chỉ số Vietnam
Resilience Index, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo,
nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, gắn kết đào tạo đại học với
nhu cầu của thị trường lao động và hoàn thiện thể chế phục vụ phát triển bền
vững. Đồng thời, Đề tài sẽ tiếp tục nghiên cứu các vấn đề mới như an ninh năng
lượng, an ninh nguồn nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và thể chế hóa quản
trị rủi ro nhằm cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ công tác hoạch định chính
sách ở tầm quốc gia.
Các đại biểu tham dự Hội thảo.
Hội thảo khoa học cấp quốc
gia "Các giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế
Việt Nam trong bối cảnh mới" đã diễn ra thành công tốt đẹp, tạo
diễn đàn trao đổi học thuật có chất lượng giữa các nhà khoa học, chuyên gia,
nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp về một chủ đề có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn sâu sắc đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Những kết quả và
khuyến nghị thu nhận từ Hội thảo sẽ tiếp tục được nhóm nghiên cứu tổng hợp,
hoàn thiện trong quá trình triển khai Đề tài thuộc Chương trình KX.01/21-30,
góp phần bổ sung các luận cứ khoa học phục vụ xây dựng mô hình tăng trưởng có
khả năng chống chịu cao, nâng cao năng lực thích ứng trước các biến động của
môi trường quốc tế và hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất
nước.
Thực hiện: Diệu Hương